kinhnghiemkhoinghiep.info

Khởi Nghiệp Trong Thời Đại Số: Lợi Ích và Thách Thức

Trong thời gian qua, hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam đã cải thiện tích cực về điểm số và thứ hạng và luôn đạt trên mức trung bình. Điều này cho thấy, kết quả của việc cải thiện môi trường kinh doanh và các chính sách khuyến khích khởi nghiệp ở Việt Nam đã phát huy hiệu quả trong thời gian qua. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội trong hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, nước ta cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức cần giải pháp khắc phục trong thời gian tới, để tạo động lực cho cac doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phát triển bền vững.

Khởi Nghiệp Trong Thời Đại Số: Lợi Ích và Thách Thức

Giới thiệu

Theo từ điển tiếng Việt, khởi nghiệp là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới (Hoàng Phê, 2010). Ở Việt Nam, khởi nghiệp được hiểu là bắt đầu công việc kinh doanh, buôn bán nhỏ, từ các ngành nghề truyền thống như bán bánh mì, xôi, chè… và không cần đăng ký kinh doanh cho đến thành lập một doanh nghiệp (DN) sáng tạo công nghệ.

Tuy nhiên, quan điểm của khoa học hiện đại thì khởi nghiệp phải gắn liền với việc hình thành một DN mới, có tư cách pháp nhân và dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, để mang lại sự đổi mới sáng tạo. Do vậy, thuật ngữ khởi nghiệp được cộng đồng quốc tế công nhận là việc thành lập một DN mới gắn liền với đổi mới sáng tạo và dựa trên nền tảng khoa học công nghệ.

Nhà kinh tế học Mỹ Drucker, P.F cho rằng: Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là hành động của doanh nhân khởi nghiệp – người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa kinh tế. Kết quả của những hành động này tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo những tổ chức đã “già cỗi”. Hình thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng những DN mới (Drucker, P.F., 1999).

Tinh thần khởi nghiệp có một vị trí xã hội quan trọng bởi tinh thần này được doanh nhân có ham muốn tìm hiểu nhu cầu của khách hàng tiềm năng. Đây là nhân tố quan trọng của xã hội đương thời (Bellotti và cộng sự, 2014).

Theo nhóm nghiên cứu Nabi và Holden (2008), khởi nghiệp thể hiện quan điểm cá nhân đối với lựa chọn nghề nghiệp, suy nghĩ và hành động hướng tới việc thành lập một DN mới.

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là việc một cá nhân tự đứng ra làm chủ hoặc đồng làm chủ gây dựng một DN mới dựa trên áp dụng hoặc áp dụng sáng tạo khoa học công nghệ để mang lại sự đổi mới sáng tạo và được gọi là doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) sáng tạo (Zhang và Yang, 2006).

Điều 3 Luật Hỗ trợ DN vừa và nhỏ năm 2017 quy định: Khởi nghiệp sáng tạo là thành lập DN mới để khai thác ý tưởng sáng tạo. Các ý tưởng sáng tạo có thể là tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh ở sản phẩm, quy trình sản xuất – kinh doanh, tổ chức hay tiếp thị. Đây chính là nhóm DN khởi nguồn đổi mới sáng tạo trong kinh doanh và cũng là cầu nối đưa các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ vào thực tiễn cuộc sống.

Bài viết nghiên cứu thực trạng hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam; đồng thời, đánh giá những rào cản và lợi thế đối với hoạt động khởi nghiệp như các chính sách của Nhà nước hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp; văn hoá và quan điểm của xã hội đối với hoạt động khởi nghiệp. Qua đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam.

Thực trạng khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam

Bắt đầu từ năm 2016, hai từ “khởi nghiệp” lần đầu tiên xuất hiện trong dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 và trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ (Nguyễn Thanh Hương, 2022). Cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam đã đạt được thành công với các công ty thế hệ thứ nhất được thành lập vào đầu những năm 2000; khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thế hệ thứ hai hình thành khoảng năm 2010, trong giai đoạn 2016 – 2022, các công ty thế hệ thứ ba đã xuất hiện trong các lĩnh vực công nghệ giáo dục, nông nghiệp, dịch vụ y tế, công nghệ tài chính và thương mại điện tử (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2017).

Báo cáo “Những người khổng lồ mới nổi ở châu Á -Thái Bình Dương 2022” do Ngân hàng HSBC và Công ty KPMG công bố, Việt Nam là một trong các quốc gia có môi trường khởi nghiệp non trẻ và năng động bậc nhất châu Á. Báo cáo “Toàn cảnh đổi mới sáng tạo mở Việt Nam” năm 2022 cho biết, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đã nhảy từ vị trí thứ 5 lên vị trí thứ 3 trong số 6 nền kinh tế top đầu ASEAN, chỉ sau Indonesia và Singapore.

Sự tăng trưởng được thể hiện cụ thể qua cả tỷ lệ vốn rót vào thị trường và số lượng các nhà đầu tư, quỹ đầu tư khởi nghiệp đang hoạt động. Trong đó, các ngành hàng: Thương mại điện tử, công nghệ tài chính, công nghệ y tế, công nghệ giáo dục, truyền thông trực tuyến và các giải pháp số cho DN được dự báo sẽ tạo bứt phá trong thu hút đầu tư (Lê Đỗ, 2022).

Theo Cục Phát triển thị trường và DN khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Việt Nam có khoảng 3.800 công ty khởi nghiệp và 11 công ty khởi nghiệp được định giá trên 100 triệu USD. Hiện nay, có hơn 200 quỹ đầu tư đang hoạt động ở Việt Nam và hơn 100 tổ chức thúc đẩy kinh doanh, cơ sở ươm tạo (ictvietnam.vn, 2022). Hiện tại, Việt Nam có 4 kỳ lân (định giá trên 1 tỷ USD) gồm: VNG, VNPay, Momo và Sky Mavis. Năm 2021, vốn đầu tư vào startup đạt mốc kỷ lục gọi vốn 1,35 tỷ USD, qua đó đưa Việt Nam trở thành thung lũng khởi nghiệp hấp dẫn bậc nhất trong khu vực ASEAN. Đơn cử như: Thương vụ gây ấn tượng mạnh với thị trường là việc Tiki gọi vốn thành công 258 triệu USD.

Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam tiếp tục có xu hướng cải thiện về điểm và thứ hạng, và luôn đạt trên mức trung bình. Điều này cho thấy, kết quả của việc cải thiện môi trường kinh doanh và các chính sách khuyến khích khởi nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua (VCCI, 2019). Các lĩnh vực startup phát triển đa lĩnh vực. Tuy nhiên, có một mẫu số chung đó là các công ty khởi nghiệp có đặc điểm lấy công nghệ là nền tảng và có những mô hình phát triển sáng tạo mang tính đột phá.

Do vậy, không thể phủ nhận startup về công nghệ hiện nay vẫn đang chiếm ưu thế đi đầu trong các DNKN nói chung. Thực tế này phản ánh đúng xu hướng phát triển trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0 với các đặc điểm: DNKN trong lĩnh vực công nghệ thông tin không cần quá nhiều vốn đầu tư ban đầu như nhiều lĩnh vực truyền thống khác; Phát triển chủ yếu dựa trên ý tưởng mới và cách làm mang tính sáng tạo cao, có khả năng tăng trưởng nhanh; Khả năng dễ dàng kết nối toàn cầu qua công nghệ giúp cho các ý tưởng sáng tạo tốt dễ dàng đến được với thế giới và ngược lại, DN cũng dễ dàng học hỏi được từ các mô hình thành công khác của quốc tế (KOCCA, 2021).

Các nhà đầu tư thiên thần trong nước và quốc tế là nguồn đầu tư chính cho các DNKN ở Việt Nam. Theo Trung tâm Đổi mới Sáng tạo quốc gia, năm 2022 Việt Nam có 134 thương vụ đầu tư với tổng số vốn là 634 triệu USD (giảm 56% so với năm 2021). Với kết quả này, Việt Nam đứng thứ ba về số thương vụ và thứ tư về quy mô vốn vào DNKN tại Đông Nam Á. Trong các lĩnh vực gọi vốn nhiều nhất, dịch vụ tài chính có số vốn tăng 248% so với năm 2021, dịch vụ bán lẻ đứng thứ hai mặc dù số vốn đầu tư vào lĩnh vực này giảm 57%, sau đó là lĩnh vực y tế và giáo dục. Theo Quỹ Đầu tư mạo hiểm Do Venture, các DNKN đã huy động được vòng Pre-A và Series A (gọi vốn từ 10-50 triệu USD) có xu hướng tăng trưởng. Các quỹ Việt Nam dẫn đầu quy mô rót vốn (tổng số vốn 287 triệu USD), tiếp theo là Singapore, Bắc Mỹ và Hàn Quốc.

Cơ hội và thách thức đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam

Cơ hội

Các công ty và nhà đầu tư thường cởi mở và năng động trong việc tìm kiếm nguồn vốn. Ngày càng nhiều công ty quỹ trong nước bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò lớn trong việc kết nối, tạo điều kiện, bảo vệ nguồn vốn đầu tư cho các đơn vị khởi nghiệp (Phan Trang, 2023). Xã hội có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp.

Mặc dù tồn tại văn hóa sợ thất bại, nhưng thái độ xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Các chính sách pháp luật của Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo dựng văn hóa khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.

Thực tế cho thấy, những quốc gia có thái độ tích cực và ủng hộ tinh thần khởi nghiệp sẽ có mức độ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cao hơn. Quyền tự do thành lập DN được bảo đảm, hệ thống pháp luật và thể chế thị trường xác lập và tôn trọng đầy đủ quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam được nhận định tốt hơn so với các quốc gia trong khu vực ASEAN.

Môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh ổn định với chi phí thấp. Trong những năm qua, Luật DN được sửa đổi, bổ sung theo hướng cải cách, mang lại luồng sinh khí mới cho môi trường kinh doanh. Cùng với đó là các chính sách như: Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ đã góp phần đẩy mạnh cải cách môi trường kinh doanh của Việt Nam; Nghị quyết số 58/NQ-CP của Chính phủ ngày 21/4/2023 về một số chính sách, giải pháp trọng tâm hỗ trợ DN chủ động thích ứng, phục hồi nhanh và phát triển bền vững đến năm 2025. Những chính sách này được đánh giá là sẽ tác động mạnh mẽ đến tinh thần khởi nghiệp của người dân và DN.

Bên cạnh đó, giáo dục khởi nghiệp ở trường đại học bắt đầu được chú trọng đúng mức và các chương trình đào tạo về khởi nghiệp bắt đầu đi vào thực tiễn, nâng cao tính thực tiễn. Nhiều trường đại học có chương trình đào tạo khởi nghiệp bắt buộc đối với sinh viên một số ngành như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Trong hơn 10 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Chẳng hạn như: Việc đưa kết quả nghiên cứu và phát triển ra thị trường của các tổ chức công và tư như Quỹ Phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia hay Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia đã góp phần hình thành các DNKN từ ứng dụng kết quả nghiên cứu. Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa quy định cụ thể nội dung hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp.

Hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia tập trung vào việc phát triển các công ty năng động, tăng trưởng nhanh dựa trên việc sử dụng tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Khung pháp lý cho đầu tư vào khởi nghiệp để xây dựng cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo, mạng lưới các nhà đầu tư và cố vấn khởi nghiệp, cũng như thúc đẩy sự tương tác giữa các bên liên quan chính.

Bên cạnh đó, Chính phủ đang từng bước hoàn thiện một số chính sách khuyến khích đầu tư cho DNKN, thể hiện cam kết cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.

Chính phủ đã ban hành các chính sách, trong đó có Đề án thúc đẩy Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về khởi nghiệp hay xã hội hoá khởi nghiệp như Đề án 844 “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”; Nghị định số 13/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hay Chỉ thị số 09/CT-TTg về việc tạo điều kiện cho DNKN sáng tạo ngày 18/2/2020; Quyết định số 897/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022 – 2030; hay Thông tư số 16/2022/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về công tác tư vấn nghề nghiệp, việc làm và hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Những chính sách, quyết định, chương trình, dự án có vai trò quan trọng trong đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, trang bị các kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp cho người học; nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, nhà giáo làm công tác hỗ trợ người học khởi nghiệp, cũng như trong quan hệ sinh thái khởi nghiệp; tạo kết nối để các DNKN có thêm sự trợ giúp về kiến thức và các mối quan hệ trong cộng đồng hệ sinh thái. Các công ty quỹ trong nước bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò lớn trong việc kết nối, tạo điều kiện, bảo vệ nguồn vốn đầu tư cho các đơn vị khởi nghiệp, giúp họ phát triển vững chắc hơn trong môi trường đầy biến động và khó khăn hiện nay.

Khởi Nghiệp Trong Thời Đại Số: Cơ Hội

Thách thức

Bên cạnh cơ hội trên, hoạt động khởi nghiệp của các DNKN Việt Nam cũng gặp một số khó khăn, thách thức. Một số thách thức của các công ty khởi nghiệp được chia thành hai nhóm: (1) Thách thức đến từ chính nội bộ DNKN; (2) Rào cản đến từ môi trường bên ngoài DNKN. Cụ thể như sau:

Rào cản nội bộ:

“Tuổi trẻ” cũng là một rào cản đối với DNKN bởi đặc thù không cạnh tranh được với các DN lớn về uy tín và hiểu biết pháp luật, khó khăn hơn trong việc xây dựng và duy trì mối quan hệ với các đối tác, không thể dựa vào danh tiếng trên thị trường tài chính, khó khăn hơn trong việc xây dựng mạng lưới hoặc tạo sự cân bằng trong liên minh.

Bên cạnh đó, người sáng lập DNKN còn thiếu kinh nghiệm trong thực tiễn. Phong trào khởi nghiệp nở rộ đã bộc lộ điểm yếu của các nhà sáng lập tại Việt Nam. Đó là họ thiếu kỹ năng, hầu hết họ không có quan điểm kinh doanh, nên không có cái nhìn thấu đáo.

Trong khi đó, các nhà sáng lập thiếu quyết tâm và nỗ lực. Tình trạng DNKN Việt Nam không đi đến cùng khiến các Quỹ đầu tư “ngại” tiếp cận. Ở Việt Nam, khi mới bắt đầu thành công, các nhà sáng lập thường hài lòng quá sớm và bắt đầu tự mãn, không sống với đam mê ban đầu. Thậm chí, hầu hết các doanh nhân trẻ thường nghĩ đến việc xây dựng một ý tưởng và sau đó bán nó. Điều này hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ của các nhà đầu tư. Họ không muốn những người sáng lập hài lòng quá sớm. Vì vậy, ngay từ đầu, nếu một DNKN đã “bám” vào ý tưởng “làm để bán” thì càng khó thu hút đầu tư.

Một trong những thách thức, rào cản khác là người sáng lập không giỏi tiếng Anh. Đối với DNKN Việt Nam tiếng Anh chưa thông thạo khiến DNKN khó tiếp thu kiến thức bên ngoài và vươn ra khu vực, cũng như thế giới.

Rào cản từ bên ngoài:

Thực tế ở nước ta cho thấy rất khó tìm nhà đầu tư thiên thần trong giai đoạn đầu ở các lĩnh vực như bất động sản, tài chính và tài nguyên. Những doanh nhân thành đạt từ các lĩnh vực này thường có cái nhìn rất khác và chưa quen với khởi nghiệp. Vì vậy, họ sẵn sàng bỏ tiền đầu tư vào những lĩnh vực có thế mạnh, có nhiều mối quan hệ và am hiểu thị trường, thay vì startup. Không dễ để kêu gọi họ đầu tư vào một lĩnh vực kinh doanh mới chỉ dừng lại ở “tiềm năng, ý tưởng” nhưng có giá “trên trời”.

Khả năng tiếp cận vốn hạn chế. Ngay cả huy động vốn từ các quỹ đầu tư cũng là bài toán nan giải đối với các DNKN Việt Nam. Hiện thị trường đã ghi nhận sự tham gia của một số quỹ đầu tư vào khởi nghiệp tại Việt Nam như: IDT (Việt Nam), Cyber Agent (Nhật Bản), Golden Gate (Singapore), IDG, 500 DNKN (Mỹ)…

Tuy nhiên, số tiền dành cho khởi nghiệp Việt Nam rất hạn chế. Mặc dù trên thực tế đã huy động được hàng triệu USD, nhưng các công ty khởi nghiệp cũng phải đối mặt với những khó khăn trong thời gian này, và một số nhà sáng lập thậm chí đã phải rời bỏ các công ty khởi nghiệp dù đã có rất nhiều nỗ lực và thời gian để xây dựng chúng.

Bên cạnh đó, việc kết nối giữa Quỹ đầu tư ngoại với DNKN Việt Nam còn gặp không ít khó khăn. Hành lang pháp lý quy định về vấn đề này còn chưa rõ ràng, chưa có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ startup tại Việt Nam, cũng như chính sách cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa thực sự hiểu thị trường Việt Nam và hành vi của người tiêu dùng.

Cơ chế, chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp được ban hành còn chưa đồng bộ. Chưa có chính sách ưu đãi để khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngay từ giai đoạn đầu. Các hoạt động kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp, các hoạt động của các bộ, ban, ngành nhằm chia sẻ, cung cấp kiến thức, thông tin kinh nghiệm về hoạt động khởi nghiệp còn hạn chế. Hiện tại, còn nhiều quỹ đầu tư vẫn phải thành lập pháp nhân tại Singapore để chủ động giải quyết các vấn đề liên quan tới ngân hàng. Để nhận được vốn đầu tư nước ngoài, các công ty Việt Nam vẫn phải sang Singapore để thực hiện các giao dịch.

Hệ thống vườn ươm khởi nghiệp chưa hoàn thiện. Các cơ sở ươm tạo còn non trẻ, vẫn còn những hạn chế như: Cơ sở vật chất yếu kém, hoạt động chậm làm giảm hiệu quả dự án, chưa có khung pháp lý chính thức, hoạt động nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ…

Hệ sinh thái khởi nghiệp đang ở giai đoạn sơ khai. Mặc dù, thời gian qua, hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những bước tiến nhất định cả về số lượng, chất lượng, nhưng các nhân tố trong hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển còn chậm, thiếu tính bền vững.

Các chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp ở nước ta còn xếp hạng ở mức thấp như: Giáo dục kinh doanh trong trường phổ thông; giáo dục kinh doanh sau phổ thông; tài chính cho doanh nghiệp; chuyển giao nghiên cứu, ứng dụng…

Rào cản lớn đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo là công nghệ ở Việt Nam chưa phát triển. Thủ tục đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ còn mất nhiều thời gian, hiệu quả chưa cao, khả năng bảo hộ kém. Chính vì vậy, nhiều DN đã phải mất rất nhiều công sức tự tạo ra các rào cản công nghệ để cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.

Bên cạnh những hạn chế trên, qua kết quả khởi nghiệp ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, các yếu tố ở nước ta còn kém xa so với các nước cùng trình độ phát triển kinh tế và các nước trong khu vực như: Sợ thất bại trong kinh doanh, khả năng kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh và yếu tố sáng tạo đổi mới trong kinh doanh.

Từ điển Collin định nghĩa: Doanh nhân là người chủ hoặc người quản lý doanh nghiệp sử dụng sự mạo hiểm và sáng kiến để tạo ra lợi nhuận. Khái niệm này cho biết hai đặc điểm/phẩm chất cơ bản của doanh nhân và đòi hỏi muốn trở thành doanh nhân thì người khởi sự kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm và có sáng kiến (Đặng Đức Thành, 2019). Đây chính là điểm yếu trong văn hoá của Việt Nam so với các quốc gia phương Tây.

Khởi Nghiệp Trong Thời Đại Số: Thách Thức

Chính sách hỗ trợ pháp lý cho DNKN ở nước ta vẫn còn chồng chéo, chưa rõ ràng, phải qua nhiều khâu thủ tục giấy tờ. Điều nay là trở ngại chính khiến các dự án khởi nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh trong thực tiễn. Không nhiều nhà sáng lập DNKN từng làm việc trong ngành luật. Số lượng DNKN đủ điều kiện mời chuyên gia cố vấn còn khá thấp. Các DNKN vẫn phải nghiên cứu, thu thập các quy định liên quan đến ngành, nghề kinh doanh của mình trên hệ thống pháp luật Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

Tel: (84-4) 37710804

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Scroll to Top